“Cú hích” quan trọng cho các ngành khoa học cơ bản và công nghệ chiến lược
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc kinh tế toàn cầu, nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Những lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, vật liệu mới hay năng lượng sạch đều đòi hỏi đội ngũ chuyên gia được đào tạo bài bản từ các ngành khoa học cơ bản và kỹ thuật nền tảng.
Tuy nhiên, nhiều năm qua, không ít ngành học đóng vai trò nền móng cho phát triển khoa học công nghệ lại chưa thực sự hấp dẫn người học. Không ít học sinh giỏi lựa chọn những ngành nghề có cơ hội việc làm và thu nhập trước mắt thay vì theo đuổi các lĩnh vực đòi hỏi quá trình đào tạo dài, khó khăn và nhiều thách thức. Trong bối cảnh đó, sự ra đời của Nghị định 179/2026/NĐ-CP cho thấy sự chuyển biến trong tư duy hoạch định chính sách, từ đáp ứng nhu cầu nhân lực ngắn hạn sang đầu tư cho những lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với tương lai đất nước.
Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục cho rằng chính sách học bổng quốc gia là thông điệp rất rõ ràng về việc Nhà nước coi trọng và ưu tiên phát triển các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược. Đây cũng là lần đầu tiên Việt Nam có một cơ chế hỗ trợ quy mô lớn, mang tính hệ thống đối với người học ở những lĩnh vực có ý nghĩa quyết định đối với năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia. Chính sách sẽ góp phần giảm áp lực tài chính, tạo động lực để học sinh, sinh viên mạnh dạn lựa chọn những ngành học khó nhưng có giá trị lâu dài đối với đất nước.
Chương trình học bổng quốc gia đối với người theo học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược được xem là đòn bẩy để thu hút nhân tài.
Chia sẻ thêm với PV Báo CAND về vấn đề này, PGS Ali Al-Dulaimi, Trưởng khoa, Khoa Khoa học máy tính và Công nghệ, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV) cho biết: Nghị định số 179/2026/NĐ-CP có ý nghĩa chiến lược quan trọng bởi nó chuyển hóa một tham vọng quốc gia đã được nhấn mạnh từ lâu, đó là xây dựng năng lực trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược thành một công cụ tài chính cụ thể có sự bảo trợ của Nhà nước. Đây không phải là một chính sách hỗ trợ học phí mang tính đại trà mà là một chính sách có trọng tâm, hướng tới các ngành ưu tiên gắn liền với năng lực cạnh tranh dài hạn của Việt Nam trong công nghiệp công nghệ cao, hạ tầng số và tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo.
PGS.TS Nguyễn Xuân Thành, Trưởng khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cũng cho rằng đây là quyết sách mang tính chiến lược, tạo “cú hích” lớn cho đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực khoa học cơ bản và công nghệ then chốt. Nghị định quy định rõ chính sách học bổng cho sinh viên, học viên thạc sĩ và nghiên cứu sinh theo học các chương trình thuộc 15 nhóm ngành. Đây là lần đầu tiên Việt Nam có một chính sách học bổng toàn diện, mức hỗ trợ cụ thể và ổn định từ ngân sách Nhà nước dành cho các ngành nền tảng, trong đó có lĩnh vực Sinh học và Sinh học ứng dụng. Chính sách này không chỉ giảm gánh nặng tài chính mà còn tạo động lực tinh thần, khẳng định vị thế và giá trị xã hội của các ngành khoa học cơ bản. Nếu được triển khai đồng bộ, đây sẽ là “cú hích” quan trọng để khôi phục vị thế của các ngành khoa học cơ bản, trong đó có Sinh học, góp phần đào tạo đội ngũ trí thức phục vụ phát triển bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đồng bộ nhiều giải pháp để chính sách học bổng phát huy hiệu quả
Mặc dù, khẳng định Nghị định 179 là cần thiết và có tiềm năng tạo tác động lớn tới việc thu hút và duy trì người học trong các lĩnh vực chiến lược song PGS Ali Al-Dulaimi cũng nhìn nhận, chính sách này sẽ khó phát huy hết hiệu quả nếu chỉ được xem như một chương trình học bổng độc lập. Bởi lẽ học bổng có thể tác động tới đầu vào nhưng chất lượng của toàn hệ thống mới là yếu tố quyết định năng lực thực sự. Để tạo ra chuyển biến mang tính đột phá, chính sách này cần đi cùng với việc nâng cấp phòng thí nghiệm, phát triển đội ngũ giảng viên chất lượng cao, thúc đẩy đào tạo gắn với nghiên cứu, và tăng cường sự tham gia có hệ thống của doanh nghiệp trong thực tập, xây dựng chương trình đào tạo và đầu tư trang thiết bị.
“Chiến lược phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao của Việt Nam cũng đã đi theo hướng này, với các mục tiêu nâng cao năng lực STEM, tăng sản lượng nhân lực trình độ cao và cải thiện sự liên kết giữa giáo dục, nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược. Nếu những nâng cấp hệ thống đó được triển khai đồng bộ, Nghị định 179 có thể trở thành nền tảng quan trọng cho năng lực cạnh tranh quốc gia; nếu không, đây sẽ chỉ dừng lại ở một tín hiệu tài khóa mạnh nhưng chưa đủ để tạo ra chiều sâu công nghệ cần thiết”- PGS Ali Al-Dulaimi chia sẻ.
Cần tăng cường hoạt động truyền thông hướng nghiệp để học sinh hiểu về vai trò, ý nghĩa của các lĩnh vực liên quan đến STEM.
Thầy Vũ Khắc Ngọc, giáo viên THPT tại Hà Nội cho rằng, Nghị định 179 được ban hành là một nỗ lực đáng khích lệ, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang có sự mất cân đối trong cơ cấu học - thi - theo đuổi các môn/ngành học STEM đã ở mức báo động. Tuy nhiên, để giải quyết tốt vấn đề này cần phải có những giải pháp sớm hơn, toàn diện hơn và quyết liệt hơn. Trước hết, cần tăng cường các hoạt động truyền thông - hướng nghiệp từ sớm cho học sinh để các em hiểu được vai trò, ý nghĩa của việc học những môn STEM, tốt nhất là từ lớp 8. Các em sẽ điều chỉnh việc học của mình ngay trước kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 và mạnh dạn hơn trong việc chọn các môn Khoa học tự nhiên ở cấp THPT.
Cùng với đó là việc nâng cao trình độ, thái độ của các giáo viên giảng dạy các môn STEM để các thầy cô yên tâm, quyết tâm học hỏi và cống hiến cho công việc. Và giải pháp quan trọng nhất là giải quyết đầu ra cho các em theo học các nhóm ngành STEM. Học bổng tuy có ý nghĩa lớn về tinh thần với sinh viên nhưng về giá trị tài chính thì sẽ là khiêm tốn nếu so với lương, thu nhập của các em khi ra trường, phải làm sao để sinh viên ngành STEM ra trường có mức lương tương xứng.
Theo PGS Ali Al-Dulaimi, cơ chế học bổng này vừa hào phóng vừa chặt chẽ khi mức học bổng hàng tháng dao động từ 3,7 triệu đồng đến 5,5 triệu đồng đối với sinh viên đại học, từ 5,5 triệu đồng đến 7,4 triệu đồng đối với học viên thạc sĩ và lên tới 8,4 triệu đồng đối với nghiên cứu sinh tiến sĩ. Hỗ trợ được cấp trong 10 tháng mỗi năm đối với bậc đại học và 12 tháng mỗi năm đối với bậc sau đại học.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 15/7, áp dụng cho người học trúng tuyển từ kỳ tuyển sinh năm 2025 trở đi, và kinh phí học bổng được tính từ ngày 1/9/2026. Đối với học sinh xét tuyển bằng kết quả thi tốt nghiệp THPT, một trong những điều kiện là đạt trung bình tối thiểu 22,50 điểm ở ba môn xét tuyển, không bao gồm điểm ưu tiên và điểm cộng, đồng thời nằm trong top 30% sinh viên trúng tuyển của chương trình tương ứng. Việc xét cấp và chi trả học bổng cũng được thiết kế dựa trên dữ liệu tuyển sinh và kết quả học tập của cơ sở đào tạo thay vì yêu cầu sinh viên nộp hồ sơ riêng biệt.
PGS Ali Al-Dulaimi, Trưởng khoa, Khoa Khoa học máy tính và Công nghệ, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam
Thời điểm ban hành chính sách này cũng được lý giải rõ ràng qua các con số. Tuyển sinh STEM của Việt Nam năm 2024 tăng 10,6%, tương đương hơn 60.000 sinh viên mới. Tổng số tuyển sinh mới STEM đạt hơn 218.000 sinh viên tại 218 cơ sở giáo dục, bao gồm 158 cơ sở công lập và 60 cơ sở ngoài công lập, chiếm khoảng 36% tổng số tuyển sinh mới toàn quốc. Tuy nhiên, tỷ lệ người học STEM của Việt Nam hiện mới ở mức khoảng 27%–31%, thấp hơn Singapore (46%), Malaysia (50%), Hàn Quốc (35%), Phần Lan (36%) và Đức (39%).
Song song với đó, chương trình phát triển nguồn nhân lực bán dẫn của Việt Nam đặt mục tiêu đào tạo ít nhất 50.000 nhân lực có trình độ đại học trở lên vào năm 2030, bao gồm tối thiểu 42.000 kỹ sư và lao động kỹ thuật, 7.500 thạc sĩ và 500 tiến sĩ. Chương trình cũng hướng tới đào tạo 15.000 kỹ sư thiết kế bán dẫn, 35.000 kỹ sư cho các công đoạn khác trong chuỗi bán dẫn, đồng thời đào tạo chuyên sâu cho 1.300 giảng viên.
Trong nền kinh tế số nói chung, Việt Nam hiện có khoảng 74.000 doanh nghiệp công nghệ thông tin với hơn 1,2 triệu lao động, có thể cần tới 3 triệu lao động vào năm 2030, trong khi chỉ khoảng 30% sinh viên CNTT mới tốt nghiệp được đánh giá là có thể làm việc ngay…





Chưa có bình luận nào
Hãy là người đầu tiên chia sẻ ý kiến!